LỜI GIỚI THIỆU
Trong kho tàng văn hóa của nhân loại, chúng ta phải kể đến kinh dịch là một bộ kinh sách cổ nhất của Trung hoa do nhiều người viết, qua nhiều thời đại khác nhau và có căn bản thực nghiệm cho tất cả mọi tư tưởng triết học của Trung Hoa và Châu Á cho đến ngày nay.
Tử vi bói toán cũng được thoát thai từ đó và bành trướng trong dân gian. Tiên khởi có tính cách rất huyền bí, vì định mệnh con người được cho rằng đã được an bài ngay từ lúc chào đời, cho nên đã lấy thời điểm này để tiên đoán vị lai theo một số nguyên tắc đặt định, theo sự tốt xấu của các vì tinh tú hội chiếu … Dần dần về sau tử vi được san định và bớt tính cách mê hoặc, tuy rằng những nguyên tắc và định lý này vẫn xây dựng trên những dữ kiện trừu tượng, khó có thể kiểm chứng nên mọi người tha hồ muốn hiểu sao cũng được các thày tử vi bói toán muốn tiên đoán cách nào cũng được và tranh luậnnhau liên tu bất tận.
Trong chiều hướng phá bỏ tính cách huyền bí mê hoặc của khoa tử vi, đưa khoa nàytrở về chỗ thực dụng, về tính nhân bản của con người, về đạo lý sống ở đời. Từ đó cụThiên Lương tiên sinh đã quan niệm tử vi như một đạo lý của thánh nhân xưa, một môn giáo dục đạo đức của kẻ sĩ để tự biết mình, biết người và chung hòa dễ dàng một cáchthích hợp nhất với đời sống của một cá nhân với cộng đồng xã hội….
Trong tinh thần tiếp nối truyền thống nghiên cứu chúng tôi thay mặt Hội Nghiên Cứu Tử Vi và Lý Số xin trân trọng giới thiệu…
(Trích lời giới thiệu)
Dịch lý là môn triết học thâm căn của Á Đông quán triệt vũ trụ của hai thế cách tượng hình là thời gian, với cơ bản rất đơn giản và âm dương ngũ hành. Nhất là sau ngày hai nhà bác học Á Đông đem dịch lý âm dương hình thành công thức song hành điện lực nguyên tử được danh dự lãnh thưởng giải Nobel năm 1957, sau hai lần thí nghiệm quốc tế nguyên tử lực cuộc.
Âm dương trên bình diện văn từ coi như cân phân ngang bằng, nhưng thực trạng theo luật cơ (lẻ) ngẫu (chẵn) vẽ nên hình tượng thì dương bao giờ cũng lấn âm quá bán (3 đối 2) như tất cả mọi mặt chia loại âm dương trong dịch
D = Nam, cương, thiện, đại, chính, thực, quân tử, phú quý, mạnh
A = Nữ, ác, tiểu, tà, hư, tiểu nhân, bần tiện, yếu.
Giữa Thiên Can và Địa Chi cũng vậy. Can phải là gốc Chi chỉ là ngọn. Nguồn thực lực quan trọng vẫn là Can nên Can được đặt đứng trước Chi cho biết đâu là căn bản.
Mỗi khi nói đến Thiên (Trời) là nhận ngay ra Thiên ấy thuộc dương với hình tượng trong sáng, mà Địa (đất) phải u minh thuộc âm. Cũng như nghĩ đến Nam tướng thì thấy đó là người mày râu dũng mãnh (dương) còn nữ thì thanh mai uyển chuyển, dịu dàng (âm).
Thời gian chữ dịch trong Tử vi chia làm 3 giai đoạn:
1. Bất dịch = Mệnh lập
2. Giao dịch = Thân hành
3. Biến dịch = Vận chuyển
Mỗi cá thể sinh vật được âm dương phối hiệp sanh ra chứa đựng ngũ hành đầy đủ hợp chất là bất dịch. Vì lẽ sống còn phải lần hồi tiếp xúc ngoại giới là giao dịch, tất nhiên đời sẽ biến dịch, tùy theo hoàn cảnh, người không hiểu tùy thời để quyết định (ăn thuở, ở theo thời) thường phải nhận lấy kết cục phiền muộn, đau thương..
Phần cương lãnh của dịch học phải biết chia loại về nghĩa âm dương.
Dương hào phải ở dương vị, âm hào nằm ở vị trí âm vị mới đắc cách, trái lại là bất chính thường đem lại khó khăn, kết quả không lành.
Mỗi quẻ dịch có 6 hào bắt đầu từ dưới chồng lên. Theo luật cơ ngẫu hào sơ hào tam, hào ngũ là hào dương vị. Hào nhị, hào tứ, hào thượng là hào âm vị. Vị trí của dương vị nên được dương hào chiếm đóng, âm vị phải để cho âm hào trú ngụ, mọi việc sẽ được hanh thông, trái lại tất sở cầu bị bế tắc.
Như hai quẻ:
a) Thủy Hỏa Kỷ Tế:
Cho thấy sơ hào ở dưới cùng hào 3, hào 5 đều một vạch là dương hào đắc dương vị. Hào 2, 4 và 6 đều có 2 vạch là trúng được âm vị của âm hào. 3 nét ở trên là Khảm thủy, 3 nét dưới là Ly hỏa. Theo tượng quẻ Thủy ở trên, hỏa ở dưới có nghĩa là hỏa bốc lên, thủy thấm xuống tức thủy hỏa tương giao để đem lại thành công, do được hợp cách của6 hào: hào âm ở âm vị, hào dương ở dương vị rất hoàn toàn đâu vào đó mà có ý nghĩa mọi sự đều được đắc cách, hạnh thông.
b) Hỏa Thủy Vị Tế: Cho thấy Ly hỏa trên, Khảm thủy dưới, các vị trí hào củaâm dương đều đứng nghịch vị trí, có nghĩa là lửa bốc lên không nấu được nước và nước thấm xuống không không chịu lửa nung. Do đó nên nước lửa không tạo được thành công dụng lớn, cho nên mọi việc sở cầu đều như trống đánh xuôi, kèn thổi ngượcvì 6 hào của âm dương đều không đắc vị.
Trong bản đồ Tử Vi thấy 12 cung âm dương xen kẽ không khác gì vị trí của 6 hào trongquẻ dịch. Lý đương nhiên người dương M ệnh đóng ở dương cung, người Âm phải ngồi ở âm vị mới đắc cách, dẫu là tam hợp Tuế Phá vẫn có nghị lực (thiên mã) phụ giúp cho con người có thêm hùng khí. Tuy rằng trong tam hợp của vòng Thái Tuế có kém phần chính nghĩa.
14 chính tinh trên địa bàn, điển hình có bộ Nhật Nguyệt luôn luôn ở vị thế âm dương thuận vị.
Người âm đóng cung dương đã là nghịch vị, nếu lại có Thái Dương thủ Mệnh thì chưa vội nói đến hành Mệnh có hợp sao hay không, mà sẽ thấy ngay có phần kém sút (Vì mệnh nằm tại tam hợp Thiếu Dương hay của Thiếu Âm). Chẳng may cung đó lại là cung lạc hãm của Thái Dương thì đó là báo hiệu người này bị lôi cuốn vào vòng đen tối ngay buổi ban sơ, nhưng rồi có một ngày sẽ sáng tỏ với tư cách Nhật Cư dương vị. Trái lại vị trí đó lại tịnh minh cho Thái Dương sự sáng tỏ đó sẽ là chiếc dù dùng để che thân.
Còn người âm đóng cung âm dù Mão hay Tỵ, thì Thái Dương đó chỉ là nhất thời không chánh nghĩa.
Tử vi xuất phát từ dịch lý, nên lấy chữ thời làm quan trọng. Người đắc thiên thời hẳn làđắc ý. Thánh Phục Hy vạch nên 8 quẻ ghi làm bát quái có ý để thiên thời trên hết, xuống đến nhân hòa ở giữa, cuối cùng phần địa lợi: Thiên - Nhân - Địa
Được Thiên thời là gặp vận hội tốt (nhập hạn trong tam hợp Thái Tuế) dầu đụng đầu vớiKhông Kiếp vẫn còn có dịp may. Tiếp đến đắc nhân hòa là được lòng người trợ giúp (bộ tinh đẩu hòa hợp, với sao thủ mệnh) rồi mới đến cung hạn là địa lợi, tốt hay xấu là sinhhay khắc với hành của bản Mệnh.
Các hành tinh trong Tử Vi đó chỉ là những hình tượng để nêu lên ý tưởng: Thiên Phủ Thiên Lương làm đại diện cho nhân hậu. Sát Phá Tham thủ vai sốt sắng ngang tàng.
Trong mỗi quẻ dịch để ra 2 hào làm hình tượng cho nghĩa trung chính: Hào nhị phải là âm hào đóng, hào ngũ dành cho dương hào là mới được đắc trung đắc chính. Còn hìnhtượng trong Tử Vi như Tử Phủ Dần Thân hay Phá Quân Thìn Tuất, chắc gì đó là ngườixứng đáng được mến trọng hay đó là kẻ đáng khinh khi. Căn bản chính không ngoài lý âm dương của cung và ngũ hành của Mệnh có đắc cách với vị trí trung chánh đã được nêu ra hay không.
Tóm lại tất cả những quy luật của dịch lý đã áp dụng, thời Tử Vi không thể không thực thi sao cho hòa hợp với nguyên lý vận động của dịch là âm dương, ngũ hành và cũng làmột căn bản chủ yếu nói chung, cho tất cả các môn lý số của dịch học.
(Trích quyển Tử vi nghiệm lý toàn thư của cụ Thiên Lương)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét