Trong lịch sử lâu đời của người Trung Hoa chưa có một quyển kinh thư nào được hang triệu người bỏ công ra nghiên cứu công phu bằng “ Kinh Dịch”. Chính vì vậy Kinh Dịch được xem là một kì thư, một kiệt tác tập thể của nhiều tác giả suốt hơn 3000 năm qua. Từ một quyển sách được xem như sách bói, nhưng bên trong Kinh Dịch còn hàm chứa đầy đủ kiến thức sống của nhân lọai về vũ trụ quan, nhân sinh quan, đối nhân xử thế… được nhiều nhà nghiên cứu, học giả Đông, Tây trên thế giới chú tâm nghiên cứu, khám phá được nhiều điều lí thú không ngờ bên trong đó.
Không riêng gì ở Trung Quốc, ở Việt Nam chỉ tính từ đầu thế kỉ 20 có nhiều học giả in sách bàn về Kinh Dịch như Phan Bội Châu, Đào Duy Anh, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hữu Lương, Bửu Cầm…. Với những chính kiến vá sự hiểu biết sâu rộng của bản thân, các tác giả đã đặt nền móng và mở ra nhiều hướng khác nhau để nghiên cứu Kinh Dịch, nhưng mỗi người chỉ có khả năng tìn hiểu một phần tư tưởng trong bộ sách đó.
Hiện vẫn còn rất nhiều yếu tố, khía cạnh trong đó cần được xem xét,nghiên cứu một cách sâu sắc và khoa học. Mục đích của bài viết này là muốn giới thiệu cho bạn đọc một cái nhìn khái quát về một số quy luật mà theo nhiều học giả đó là nền móng làm nên tư tưởng biện chứng trong Kinh Dịch.
Trong “ Hệ từ hạ truỵện” có viết: “Bảo Hy cai trị thiên hạ, ngẩng lên thì xem các văn vẻ của chim muôn cùng những thích nghi với trời đất. Gần thì lấy thân mình, xa thì lấy ở vật, rồi làm ra bát quái để thông suốt cái đức của thần minh và điều hòa cái tình của vạn vật”. Các tác giả Kinh Dịch đã lấy thế giới khách quan làm đối tượng nhận thức của mình, phân tích, xem xét các sự vật, hiện tượng trong đó để khái quát thành những quy luật phản ánh những sự vận động của giới tự nhiên. Khối lượng tri thức ở trong đó rất nhiều đủ các thể lọai; từ chuyện đi lại, hôn nhân, kiện tụng, ăn uống, trang sức, nuôi nấng… đến những chuyện tu thân, tề gia trị quốc, xử thế. Nhưng cốt lõi của Kinh Dịch không phải dừng ở những tri thức cổ xưa này, cái quan trọng nhất của Kinh Dịch là sự ẩn chứa những tri thức và phương pháp nhận thức về cái tri thức ấy. Chính vì vậy mà Kinh Dịch có ảnh hưởng rất lớn đến các triết gia Trung Quốc cổ xưa.
Tương truyền đức KhổngTử – một nhân vật tiếng tăm thời Xuân Thu, có ảnh hưởng rất lớn đến nền văn hóa Trung Quốc – sau khi dùng sức cải hóa thời cuộc mà không thành, cho tận khi về già mới đọc Kinh Dịch và thốt lên rằng: “ Ta mà đọc Kinh Dịch thêm vài năm nữa thì ắt không mắc phải sai lầm!”. Thế mới biết một trong những đắc dụng của Kinh Dịch là vận dụng hữu hiệu trong việc đo lường sự thành bại mất còn trong việc xử thế của con người có tầm quan trọng như thế nào ?
Khi đọc Kinh Dịch ta thấy nó là một thể thống nhất. Không có yếu tố nào của nó đứng độc lập, mà không có sự liên hệ chặc chẽ với nhau, ngay các quẻ cũng không đứng độc lập. Đọc “Tự Quái truyện” ta thấy mỗi quẻ đều có mối quan hệ liên kết với quẻ trước và sau nó. Trong một quẻ lại càng thấy rõ điều đó, không chỉ có sự liên hệ giữa nội quái và ngọai quái mà còn có sự liên hệ tác động giữa hào sơ và hào nhị, hào nhị và hào tam… hào ngũ với hào thượng.
Như vậy Kinh Dịch đã cho thấy được mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, bất kì sự vật, hiện tượng gì cũng đều có sự tương tác qua lại với nhau từ trong ra ngoài, từ nhỏ đến lớn và ngược lại ... Trong “Hệ từ hạ truyện”: “Thiên địa nhân uân, vạn vật hóa thuần, nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh: (Trời đất quấn quýt lấy nhau mà vạn vật hóa ra đủ hình. Giống đực, giống cái kết hợp mà vạn vật sinh nở biến hóa). Ngòai ra sự liên hệ tương tác là điều kiện của vận động,”
Cương nhu tương thôi, nhi sinh biến hóa” ( Mềm, cứng xô đẩy nhau mà sinh ra sự biến hóa- Hệ từ hạ truyện). Như vậy tương giao (gặp nhau), tương thôi (xô đẩy nhau), tương thế( thay thế nhau) và tương thành ( làm nên nhau) là một quy luật tự nhiên. Nếu trái với quy luật này thì sự vật không thể hòa hợp với nhau và như vậy theo Kinh Dịch đó là một hiện tượng xấu. Ví dụ quẻ “bỉ” và quẻ “vị tế”. Quẻ “bỉ”: Trên là càn, khí dương thăng lên, dưới là khôn, khí âm đi xuống không giao nhau; âm không thăng, dương không giáng được, không tương tác với nhau được thì bế tắc. Còn quẻ “Vị Tế” có nghĩa là chưa xong hay chưa qua, tượng quẻ trên là Ly (lửa), dưới Khảm (nước), lửa tính chất đi lên, nước thấm xuống dưới; như tượng quẻ cho thấy Thủy, Hỏa không giao nhau được, không tác động lẫn nhau được; quẻ xấu là vì thế.
Ngược lại quẻ Thái và quẻ Ký Tế được coi là tốt chính vì âm dương có sự giao cảm; thủy hỏa hài hòa. Gạo mới có thể nấu thành cơm. Mọi sự vật hiện tượng khác cũng thế, muốn tồn tại phải nương nhờ, phụ thuộc, gắn bó lẫn nhau chứ không thể tách biệt, cô lập được.
Trong “Hệ từ thượng truyện” có nói: “Đạo dịch rộng lớn thật, nói xa thì đạo ấy vô cùng, nói gần thì đạo ấy tĩnh mà chính (ngay), nói về khỏang trời đất thì ấy bao gồm đủ cả”. Vậy đạo dịch là gì? “Đạo dịch thường biến thiên, biến động không ngừng, xoay quanh sáu hào trong mỗi quẻ, thăng giáng không nhất định, cương nhu thay nhau không dùng làm khuôn mẫu bất dịch”. (Hệ từ hạ truyện). Vậy thì dịch chính là biến dịch. Vạn vật trong vũ trụ luôn trong quá trình sinh thành, biến đổi không có gì là có sẵn và hòan tòan đứng yên bất biến, như vậy có nghĩa là trời đất luôn vận hành bằng các quy luật, còn dịch nói lên những guyên lý vận hành của các quy luật này và đo lường được mọi biến chuyển và tương tác không ngừng của nó.
Từ đó có thể nói có trời đất là có dịch và có dịch là có trời đất. Vạn vật đều thống nhất nhau ở đạo Dịch hóa ra một ý nghĩa của Dịch là “ sinh”. Hệ từ truyện có viết: “Sinh, sinh chi vị dịch” đây là một quy luật của vũ trụ, cái mới không ngừng sinh ra để thay thế cái cũ phải mất đi, cứ thế tạo nên một dòng chảy bật tận. Chính vì vậy sinh hóa là cái đích của trời đất. Trong 64 quẻ của dịch, quẻ Vị Tế được xếp sau cùng là đã có hàm ý rằng: vạn vật đều trong quá trình hình thành, phát triển, chưa cái gì đã xong, đã hòan thành mà là đang vận động biến đổi kế tiếp nhau không ngừng.
Vận động biến đổi không ngừng là một quy luật biến đổi của vũ trụ, quy luật đó chính là quy luật “ biến dịch” trong kinh Dịch. Trong quá trình vận động biến đổi này không phải là hỗn loạn, mà luôn tuân theo một quy luật nhất định bất biến, quy luật này gọi là quy luật “ Bất Dịch”. “Trời đất luôn vận động thuận theo lẽ tự nhiên, cho nên mặt trời, mặt trăng, phần đêm, phần ngày chẳng bao giờ sai lầm, mà khí hậu bốn mùa chẳng bao giờ sai lệch” (Thiên địa dĩ thuận động, cố nhật nguyệt bất quá, nhi tứ tời bất trắc – Quẻ dự phần thóan truyện)
Âm Dương thay thế lẫn nhau, cứ một cái tiến thì một cái lùi, một cái lùi thì môt cái tiến. Biến hóa chỉ là sự tiến lùi của âm dương mà thôi, “Biến hóa giả, tiến thóai chi tượng dã, cương nhu giả, trú dạ chi tượng dã” (biến hóa là hình tượng của sự tiến thóai, cương nhu là hình tượng ngày đêm- Hệ từ thượng). “Cát hung luôn thắng lẫn nhau theo một quy luật nhất định” ( cát hung giả, trinh thắng giả dã). Việc ở đời không cát thì hung, hết cát lại hung, hết hung lại cát.
Dương cực thịnh thì suy lần để cho âm thịnh lên , khắp vũ trụ không nơi đâu, không thời nào không có luật đó. Từ sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, sự qua lại của bốn mùa, sự lên xuống của thủy triều, sự thịnh suy của một dân tộc, một quốc gia, một dòng họ, sức lực trí tuệ của một cá nhân… không có gì không tuân theo quy luật thịnh suy “Mãn chiêu tổn, khiếm thụ ích” (đầy thì vơi, thiếu thì sẽ được thêm). Cho nên quẻ Ích vốn là quẻ tốt mà hào cuối lại xấu: “ Tràn thì cuối cùng phải đổ”. Quẻ Tốn vốn là xấu mà cuối lại tốt: “Vơi thì được thêm”. Xấu như quẻ Cổ (đổ nát) mà thoán từ khen là tốt, chỉ vì đổ nát thì cuối cùng phải làm lại cái mới (canh tân), mà làm mới lại là điều tốt, vì vậy không có gì suy cực mà không thịnh lùi. Tới lúc cùng thì bắt đầu trở lại. Quẻ Khốn (khốn đốn) là thời khó khăn cực điểm, năm hào đều xấu mà hào trên cùng, hào từ cho là tốt: “Khốn vu cát lũy, vu nghiết ngột, viết động hối, hữu hối, chinh cát” ( bị khốn vì dây sắn, dây leo, khập khểnh, gập ghềnh; tự hỏi rằng họat động là ân hận chăng? Biết suy nghĩ như vậy thì hành động sẽ tốt). Vậy thì trong họa vẫn có phúc, trong phúc vẫn ẩn họa: “ Họa hề phúc chi sở ý, phúc hề họa chi sở phục” (họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ nấp của họa). Cho nên trong “Tự quái truyện” đã làm cho ta chú ý đến quy luật đó, nên sau mỗi quẻ thường đặt một ý nghĩa ngược lại; như sau quẻ Thái tới quẻ Bỉ, sau quẻ Bát tới quẻ Phục, sau quẻ Tổn tới quẻ Ích, sau Kí Tế đến Vị Tế…
Kinh Dịch lấy âm dương làm nền tản cho học thuyết của mình. Âm dương chồng lên nhau thay đổi lẫn nhau trong 64 quẻ mà giải thích tòan bộ các sự vật, hiện tượng, cả thiên nhiên lẫn xã hội. Âm Dương thay thế nhau được do một luật bất biến “Nhất âm, nhất dương chi vị đạo”. Đạo có nghĩa là quy luật phổ biến, là nguyên lí cho mọi sự tồn tại vận động và phát triển. Đại biểu cho dương là trời ( thiên), đại biểu cho âm là đất (địa) “Trời đất hội nhau thì vạn vật mới sinh trưởng phát đạt rõ ràng” (quẻ Cấn). Thiên địa phải tựa vào nhau còn độc âm hay cô dương thì không thể sinh, không thể thành. Trong trường hợp này thì vạn vật sẽ bị tiêu diệt.
Cho nên âm dương chuyển hóa, thăng giáng vô cùng tận trong vũ trụ. Nhận thức được điều này các tác giả dịch truyện mới nói: “Âm dương bất trắc chi vị thần” (âm dương biến đổi không lường trước được như vậy mới gọi là thần. Tóm lại luật âm dương lúc nào cũng động mà động thì sinh ra biến, biến tới cùng thì quay trở lại để cho được thông, có thông thì mới vĩnh cửu tồn tại mãi được “Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thong tắc cửu” (Hệ từ hạ).
Từ những tư tưởng biện chứng về mối liên hệ và sự phát triển, thống nhất, đấu tranh của hai mặt đối lập và một số quy luật trong kinh Dịch, đã cho thấy Kinh Dịch đã cung cấp cho con người toàn bộ công cụ và những nguyên lí nhận thức về tự nhiên và xã hội. Đem ứng dụng vào đời sống thật là hữu hiệu. Có thể đơn cử một vài thí dụ : Trong YHCT Kinh Dịch được xem là một nên tảng lý luận. Hải Thượng Lãn Ông có nói : “Học y tiên học dịch”, khuyên các thầy thuốc cần phải hiểu biết về dịch, nắm rỏ sự biến hóa của Âm Dương để vân dụng khéo léo trong việc trị bệnh.
Trong tập “Huyền tẩn phát vi” Lãn Ông đã lấy tượng hai quẻ Kí Tế và Vị tế để lý luận về “Thủy Hỏa” và chỉ ra cách vận dụng bài “ Bát vị” và “ Lục vị” sao cho thật hữu hiệu. Còn tại Trung Quốc quê hương của Kinh Dịch người ta có thể ứng dụng Dịch học trong khoa học dự báo như dự báo thời tiết, thủy văn, động đất,…và nhiều lĩnh vực khác thật là chính xác.
Từ những cơ sở lý luận của Kinh Dịch như đã trình bày, chứng tỏ Dịch là một kho tàng tri thức quý giá, không mang màu sắc mê tín như một số người thường hiểu, mà Dịch chính là trí tuệ của nhân loại là nền tảng của triết học Đông phương, cần được nghiên cứu và phát triển.
Lương Y Trần Minh Trí
( Theo đặc san Người làm thuốc 2004)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét