Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

Những bài viết hay

Quân Vương nhân nghĩa, muôn dân được lợi ích.
Người có lòng nhân nghĩa một khi làm việc gì đều suy xét đến lợi ích của người khác trước lợi ích của bản thân mình. Bởi vậy, nếu trong một phạm vi nhỏ là một tập thể hay phạm vi lớn là một quốc gia, người đứng đầu có lòng nhân nghĩa thì những người bên dưới sẽ thu được lợi ích. Mạnh Tử người nước Trâu thời Xuân Thu, một lần ông đi đến gặp vua của nước Ngụy là Ngụy Huệ Vương.

Ngụy Huệ Vương hỏi Mạnh Tử: “Tiên sinh, ngài từ ngàn dặm xa xôi tới đây, chắc chắn là muốn mang đến chút lợi ích cho nước của chúng tôi rồi!”

Mạnh Tử điềm tĩnh đáp: “Quốc Vương, ngài sao có thể mở miệng ra là nói đến lợi ích thế? Làm một vị Quốc Vương thì nên phải lấy nhân nghĩa làm trọng. Nếu như một vị Quốc Vương mà hễ mở miệng là nói đến lợi ích của đất nước ra sao, quan lại hễ mở miệng là nói đến lợi ích của gia tộc mình sẽ như thế nào. Hạ quan và dân chúng hễ mở miệng là đều nói làm sao mới có được lợi ích cho bản thân mình. Cứ như thế, từ Quân Vương cho tới dân chúng, đều vì lợi ích của cá nhân mình mà tranh mà đấu thì thiên hạ chẳng phải bị nguy hiểm rồi sao?”

Ngụy Huệ Vương nghe xong lời này của Mạnh Tử liền nói: “Ngài dạy thật đúng quá!”


Thêm: 3 câu chuyện về nghệ thuật ứng xử của người xưa

Trước đó, Mạnh Tử từng hỏi thầy của ông là Tử Tư rằng: “Trong biện pháp cai trị dân chúng thì nên đặt điều gì lên hàng đầu?”

Tử Tư nói: “Phải đặt lợi ích của dân chúng lên trước!”

Mạnh Tử lại nói: “Người quân tử giáo dục dân chúng chỉ nói hai từ ‘nhân nghĩa’, cần gì phải nhắc đến hai từ ‘lợi ích’ đây?”

Tử Tư giảng đạo cho Mạnh Tử nghe: “Nhân nghĩa vốn cũng là vì lợi ích của dân chúng. Bởi vì bên trên bất nhân mà bên dưới không được lợi ích, bên trên bất nghĩa mà bên dưới trở nên ham thích lừa gạt. Đây mới là bất lợi lớn đó! Bởi thế mà Chu Dịch viết: ‘Lợi là tổng hòa của nghĩa’, lại viết: ‘Lợi có thể làm yên ổn lòng dân, sau đó mới có thể khiến người ta tôn sùng đạo đức’. Những điều này đều là để nói rằng: Lợi ích của dân chúng chính là đại tiền đề.”

Tư Mã Quang từng bình luận về hai đoạn đối thoại trên rằng: “Lời nói của Tử Tư và Mạnh Tử là nhất trí với nhau. Chỉ có người nhân nghĩa mới hiểu được rằng nhân nghĩa vì sao có thể trở thành lợi ích của dân chúng. Người bất nhân nghĩa thì thật khó để hiểu được. Cho nên, nguyên nhân Mạnh Tử chỉ giảng ‘nhân nghĩa’ với Ngụy Huệ Vương mà không nhắc đến lợi ích là vì đối tượng giảng bất đồng mà thôi.”

Bởi vậy, có thể thấy rằng “nhân nghĩa” của bậc Quân Vương và “lợi ích” của dân chúng là nhất trí với nhau.



Theo tác giả An Hòa

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Lễ Đại đăng khoa

                                                               Lễ Đại đăng khoa
                                                                       (Lễ Đính hôn hay Lễ hỏi tổ chức bên nhà gái )
Vai trò người Chủ hôn bên nhà trai.
Ý nghĩa : Đại đăng khoa là nói về việc sĩ tử đi thi đã đậu, có tên trên bảng vàng. Trong hôn lễ có nghĩa cô gái được chàng trai chấm làm cô dâu tương lai, trước bao nhiêu người con gái khác và chỉ còn chờ bên nhà gái hứa gã là sẽ chọn ngày tổ chức lễ cưới Tiểu đăng khoa, trong đó cũng có hàm ý vui mừng chung của hai họ. Lễ này cũng còn được gọi là Lễ hỏi. 
Lễ hỏi là nhà trai mang sính lễ sang hỏi nhà gái, xem có chắc gã con gái cho mình không và khi nhận lễ vật, là nhà gái đã trà lời là chắc chắn gã.              Cụ thể hơn, họ sẽ cho phép chú rễ tiến hành nghi thức bái gia tiên để chính thức công nhận đây là con rễ tương lai của gia đình mình. 
Cũng vậy, trong nghi lễ này nhà gái sẽ cho phép cô dâu nhận nữ trang bên nhà trai và đương nhiên, con gái của họ cũng chính thức trở thành con dâu tương lai của họ nhà trai. 
Còn lễ Đính hôn là nhà trai mang lễ vật sang nhà gái để thỏa thuận, giao kết chính thức với nhà gái về việc gã con gái của mình cho nhà trai.
Tất cả 3 ý nghĩa trên đều có cùng mục đích chung, nhưng không có giấy tờ nào ràng buộc và chỉ có điều ràng buộc đương nhiên là phải tổ chức buổi lễ có sự chứng kiến của tổ tiên, cùng bà con, làng nước.
Tiến trình nghi lễ tuần tự theo các bước như sau:
1/- Chuẩn bị Sính phẩm lễ vật.
Gồm có: một đôi đèn to, mâm trầu cau; bánh cốm; mứt sen; rượu; chè; bánh phu thê (bánh xu xê), bánh đậu xanh, lợn sữa quay.v.v...... tiền dẫn cưới và 4 miếng trầu tiêm để trên khai rượu có 2 cái chung. Phần sính nghi của cô dâu tối thiếu phải có đôi bông tai và cặp nhẫn.
Khi đoàn nhà trai đi qua thì Chủ hôn nhà trai đi đầu, cha mẹ chú rể, chú rể bưng quả có đôi bông tai, bên ngoài là 1 đôi đèn, rễ phụ bưng khai trầu, đoàn mâm quả đi sau, chọn: 3,5,7,9 quả số lẽ tượng trưng cho sự phát triển và bà con thân tộc đi sau cùng.
Nhà trai đến cửa thì dừng lại, ông Chủ hôn nhà trai cùng rễ phụ mang khai trầu rượu vào để trên bàn giữa, chú rễ phụ( không trình lễ giữa đường) rót rượu và Chủ hôn nhà trai nói :
"Thưa ông trưởng họ nhà gái, đúng như sự thỏa thuận của 2 nhà , hôm nay nhà trai mang sính lễ sang đây để xin được tiến hành nghi lễ Đai đăng khoa. Hiện nhà trai đã đến chờ ngoài ngõ, nay tôi ra chung rượu này để trình qua trước hết là Tổ bên nhà gái, sau nữa là ông Chủ hôn cho phép nhà trai được trình lễ nhập gia."
Đáp lại, người Chủ hôn nhà gái bước vào bàn thờ thắp 3 nén hương, mời ông Chủ hôn nhà trai trình báo với gia tiên. Sau đó, Chủ hôn nhà gái nhận lời và Chủ hôn nhà trai trở ra dẫn họ nhà trai cùng tiến vào nhà. 
Khi vào nhà an tọa xong, đôi bên giới thiệu nhau về thành phần tham dự.

2/-Lễ trình sính phẩm lễ vật.
(dành cho chú rễ làm lể bái từ đường bên nhà gái).
Sau đó Chủ hôn nhà trai cho rễ phụ rót rượu và nói nhập đề đại loại như:
"Kính thưa quí lưỡng tộc và quí quan khách, Người xưa thường nói: Nam nữ hợp hôn, giai do tiền định. Châu Trần kết tóc đều do Nguyệt Lão xe duyên. Vì vậy nên trai lớn lên là phải cưới vợ, gái lớn lên đều phải gả chồng để xây dựng gia đình, sanh con đẻ cháu nối dòng hương khói và phát triển giống nòi.
Sau quá trình tìm hiểu, yêu thương nhau và cũng được cha mẹ hai gia đình chấp thuận, cho nên nhà trai hôm nay mang lễ phẩm sang đây để xin được tiến hành nghi lễ Đại đăng khoa và cho phép chú rễ làm lễ bái từ đường bên họ nhà gái. 
Sau đây tôi xin trình qua lễ vật gồm có: 
( tiến lại dở từng mâm và nói rõ thứ gì để cúng lễ gia tiên, các món của cô dâu chưa trình)
1 cặp đèn, 1 cặp trà, rượu, 1 quả trái cây, 1 quả bánh…
Xin được trình qua quí lưỡng tộc và cùng quí vị quan khách được rõ."
Khi nhà gái nhận lễ xong, Chủ hôn nhà gái cho mang lễ phẩm trái cây, đèn…và khui 1 chay rượu lên bàn thờ để chuẩn bị cho chú rễ làm lễ bái gia tiên và ra mắt họ hàng bên nhà gái. 
(Lưu ý, trong lễ bái gia tiên này chỉ có mình chú rễ, không có cô dâu cùng hành lễ. Và các phần nghi thức bái gia tiên đều do Chủ hôn nhà gái thực hiện.)
3/- Lễ yết kiến nhạc phụ, nhạc mẫu.
Khi chàng rễ bái gia tiên xong Chủ hôn nhà trai nói:
"Kính thưa quí bổn tộc và quí quan khách, Sau khi nhà gái nhận lễ vật của nhà trai, thì xem như nhà gái đã hứa kết tình thông gia cùng với nhà trai. Cũng vậy, sau khi cho phép chú rễ làm lễ bái tổ tiên bên họ nhà gái xong, thì cũng có nghĩa là họ nhà gái đã chấp nhận đây là chàng rễ tương lai của gia đình mình. 
Để đánh dấu sự kiện quan trọng này, kể từ nay, cho phép chú rễ tương lai được tập gọi bằng ông bà cha mẹ của cô dâu là ông bà cha mẹ của mình, cũng như đối với họ tộc bà con bên nhà gái cũng đều như vậy.
Và giờ đây cho phép chú rễ mượn chung rượu để xin được ra mắt nhạc phụ, nhạc mẫu cùng với ông bà họ tộc bên nhà gái hiện diện trong ngày lễ hôm nay."
( Nếu còn ông bà nội ngoại thì mời rượu trước, sau đó là cha mẹ sau. Sau cùng là nhờ ông nhạc giới thiệu mọi người cho chú rễ ra mắt).
4/- Lễ trình sính nghi cho cô dâu.
Đến phần trình sính nghi cho cô dâu Chủ hôn nhà trai nói:
"Kính thưa quí bổn tộc và quí quan khách, trong buổi lễ hôn nay, ngoài những sính phẩm lễ vật để chú rễ làm lễ bái từ đường bên họ nhà gái, thì họ nhà trai cũng có đem qua một đôi bông, ….để làm quà sính lễ cho cô dâu.
Kính trình qua cùng quí lưỡng tộc và quí quan khách."
Xong, nhà gái sẽ gọi cô dâu ra chào 2 họ và nhận nữ trang xong, thì đến phần:
5/- Lễ cô dâu yết kiến cha mẹ chồng
Chủ hôn nhà trai cho rót rượu nói tiếp:
"Kính thưa quí bổn tộc và quí quan khách, Sau khi chú rễ tương lai làm lễ ra mắt tổ tiên bên họ nhà gái xong, thì họ nhà gái đã chấp nhận đây là chàng rễ tương lai của gia đình mình.
Đồng thời sau khi cô dâu nhận sính lễ của nhà trai xong, thì nhà trai cũng đã chấp nhân đây là cô dâu tương lai của họ tộc nhà mình. 
Tương tự như chú rễ, từ nay họ nhà trai cũng cho phép cô dâu tương lai được tập gọi ông bà cha mẹ của chú rể là ông bà cha mẹ của mình, cũng như đối với họ tộc bà con bên nhà trai cũng đều như vậy.
Và giờ đây, mời chú rễ giúp cô dâu rót chung rượu lạc để cô dâu tương lai ra mắt cha mẹ chồng, cùng với bà con đang hiện diện."
6/. Lễ lui đèn: (nếu có lên đèn)
Chủ hôn hoặc chủ lễ lấy đôi đèn xuống rồi chụm lại cho tắt (không thổi)
    7. Kết.
Xong đâu đó, Chủ hôn nhà trai rót rượu nói:
"Kính thưa quí lưỡng tộc và quí quan khách, nghi Lễ Đại đăng khoa là một nghi thức long trọng nhất trong phong tục hôn nhân truyền thống của dân tộc. Đây được xem là ngày thông báo chính thức của gia đình bên gái về việc hứa gả con gái của mình cho họ nhà trai, trong đó có sự chứng giám linh thiêng của tổ tiên và bà con hai họ.
Cho nên, đây là giai đoạn hết sức quan trọng trong tiến trình quan hệ hôn nhân. Vì một khi lễ vật của nhà trai mang qua được nhà gái chấp nhận, thì cũng có nghĩa là nhà gái đã chính danh đồng ý, chấp nhận kết tình thông gia cùng với họ hàng nhà trai. 
Đồng thời cô con gái giờ đây đã trở thành "vợ sắp cưới" của chàng trai, và chàng trai đã chính thức được nhận là con rể tương lai của gia đình nhà gái.
Như vậy, kể từ nay đôi trai gái này được coi là đôi vợ chồng chưa cưới, xin nhắc lại: là đôi vợ chồng chưa cưới, chỉ còn chờ đến ngày cưới là 2 người mới chính thức bước vào đời sống vợ chồng.
Phần nghi lễ hôm nay đến đây cũng xem như cơ bản hoàn thành, phần còn lại của 2 gia đình là :sẽ bàn bạc và thống nhất với nhau về thời gian cử hành lễ cưới để 2 bên cùng chuẩn bị."
Sau khi bàn bạc xong, Chủ hôn nhà gái sẽ mời nhập tiệc và tiệc xong Chủ hôn nhà trai rót rượu trình lễ dự kiếu, ra về./.

22/7/2015

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

VAI TRÒ NGƯỜI CHỦ HÔN TRONG NGHI LỄ CƯỚI-HỎI

VAI TRÒ NGƯỜI CHỦ HÔN TRONG NGHI LỄ CƯỚI-HỎI
VÀ NGHI THỨC TIẾN HÀNH LỄ DẠM NGÕ.
Việc cưới vợ, gã chồng được tiến hành trong nghi lễ hôn nhân là một việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì không những nó sẽ ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người mà nó còn là một phong tục truyền thống tốt đẹp, mà tất cả mọi người trong cộng đồng cần phải tiếp bước noi theo.
Cho nên nếu nghi lễ này được tổ chức một cách trang trọng, đúng theo phong tục truyền thống của dân tộc, thì sẽ được bà con làng nước đến tham dự ngợi khen và đánh giá đây là gia đình thuộc về tầng lớp có hiểu biết về đạo lý, lễ nghĩa. Và tất nhiên, mọi người sẽ có thiện cảm, quý trọng người chủ gia đình, trong đó có bà con dòng tộc.
Ngoài ra, có thông qua nghi lễ này thì cũng sẽ làm đẹp mặt, đẹp lòng người sống, làm rạng rỡ vong linh của tổ tiên, dòng tộc, đúng theo nề nếp gia phong, bảo tồn mỹ tục của đất nước và nêu gương tốt cho các tầng lớp hậu thế, noi theo.
Đặc biệt chú rễ, cô dâu sẽ là người mang dấu ấn tốt đẹp này sâu sắc nhất, trong suốt cả cuộc đời này.
Cũng vì tầm quan trọng và những giá trị thiêng liêng này mà trong tiến trình nghi lễ, người Chủ của gia đình dù có am tường nghi lễ, họ cũng không thể tự đứng ra Chủ trì và thường phải đi tìm một người có tuổi, lại hiểu biết để nhờ chủ trì các nghi lễ giúp mình.
Nếu họ tự đứng ra, về mặc khách quan thì sẽ bị đánh giá là không biết tôn trọng người khác, nhất là bên thông gia lúc nào cũng có nhờ ông Chủ hôn thay mặt. Và khi đã nhờ người thay mặt, thì quá trình tiến hành nghi lễ, nếu ông này gặp sự cố gì dẫn đến sai sót, thì ông sẽ là người đầu tiên bị họ hàng 2 bên chê trách, rồi sau đó mới đến lượt người chủ nhà. Có nghĩa là người chủ nhà sẽ không bị phê phán trực tiếp, làm ảnh hưởng đến uy tín cá nhân và sau đó liên lụy đến cả dòng tộc.
Cho nên vai trò của người chủ hôn đứng ra chủ trì nghi lễ, dù bên trai hay bên gái, cũng đều rất quan trọng.Vì vậy, trong quá trình chủ trì hôn lễ nếu có vị nào thiếu hiểu biết về các nghi thức, thì khi tiến hành sẽ bị lúng túng, sai sót hay làm đại khái, chiếu lệ là điều không phải luận bàn.
Nếu chẵng may gặp người chủ hôn như vậy, thì không những bộ mặt và hình ảnh của người chủ gia đình không được tốt đẹp mà việc bảo tồn, phát triển mỹ tục của đất nước do tổ tiên dày công tạo dựng cũng bị hoen ố và sẽ lần bị mai một đi. Vì các vị này là những người trực tiếp thực hành việc phát huy và bảo tồn mỹ tục này của đất nước, trong đời sống xã hội, nêu gương tốt cho mọi người noi theo.
Và dường như điều này cũng đã trở thành 1 thực trạng, nên ở nước ta hiện nay có rất nhiều người không biết phải cử hành hôn lễ cho con cái như thế nào?
Cũng có người băn khoăn nếu làm đúng tập tục xưa, thì có quá nhiều nghi tiết không còn phù hợp, còn đơn giản lại thì phải làm như thế nào để vừa kế thừa truyền thống của dân tộc, vừa mang tính giáo dục cho các thế hệ con cháu mai sau?
Trong khi các bậc trưởng thượng thời nay dù có tổ chức hôn lễ cho con cháu, thì các nghi tiết họ cũng thường đơn giản lại, tùy theo ý tưởng của mỗi người và cuối cùng cũng không biết ai đúng, ai sai?
Lại còn có những người tiến hành nghi lễ mà không rõ được ý nghĩa của từng nghi thức và nếu có ai hỏi, thì họ nói: thấy cha ông làm vậy thì mình cũng làm như vậy?.
Lại còn có nhiều người tổ chức cưới, gã 2-3 lần: một lần ở nhà hàng, một lần ở tư gia? Điều tệ hại này là do một số người chưa qua nghi lễ tại nhà mà lại cho nhà hàng tổ chức hôn sự công nhận dâu, rễ rồi sau đó mới làm lễ tế cáo gia tiên tại nhà.
Trong trường hợp này, nếu cả hai gia đình không có điều kiện tổ chức tại nhà, thì họ làm như vậy là đúng. Nhưng nếu có tổ chức tại nhà thì nơi đây chỉ có thể tổ chức liên hoan lễ thành hôn, hay tiệc ra mắt cô dâu, chú rễ …bên nhà trai; lễ nhóm họ hay tiệc liên hoan chúc mừng lễ vu qui cho cô dâu…bên nhà gái, thì không ai chê trách.
Còn không phải như vậy, thì đó là điều vô tình làm tổn hại nghiêm trọng đến phong tục cưới hỏi truyền thống của dân tộc, vừa làm tủi hỗ vong linh của tổ tiên, vừa làm tổn hại đến nhận thức về lễ giáo cho người chủ của một gia đình.
Và điều đáng buồn hơn, có một số người cử hành hôn lễ cho có lệ để bên ngoài nhìn vào thấy nhà này có đám cưới là được. Thậm chí tổ chức hôn lễ để chụp ảnh, ghi hình là chính chứ không cần biết gì đến truyền thống cưới hỏi của dân tộc. Điều này đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà quay phim, chụp ảnh thao túng, chủ động sắp sếp từ ông chủ hôn đến ông chủ nhà, dâu, rể đều trở thành diễn viên dưới bàn tay đạo diễn của họ.
Tóm lại, trên thực tế cho thấy dù không hẳn là tuyệt đối, có nhiều nhận xét cho rằng: Những cặp trai gái cùng nhau ăn ở dễ dàng, không qua nghi thức hôn lễ thường dể xảy ra đổ vỡ, tan rã hơn vì không có sự ràng buộc tinh thần của hôn lễ, vì thiếu căn bản vững chắc của lễ giáo trong gia đình, trái với thuần phong mỹ tục của xã hội.
Nhưng tổ chức hôn lễ như thế nào để vừa bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa nêu gương tốt cho các thế hệ đời sau mới là điều quan trọng, điều mà tổ tiên đã từng làm cho chúng ta trong suốt mấy ngàn năm qua.
Thiết tưởng với vai trò người Chủ hôn của 2 họ, quí vị mới là người chung tay xây dựng và phát triển tính ưu việt của phong tục cưới hỏi này, trong thời đại ngày nay.
VÀI NÉT VỀ HÔN LỄ
Trong Tứ Thư Ngũ Kinh của Nho gia, nếu gọi Kinh dịch là bộ Kinh đứng đầu, thì Kinh Lễ được coi là bộ Kinh quan trọng tiếp theo. Vì nội hàm bao quát của bộ Kinh này là nhằm tiết chế những thứ tình cảm của con người khi có điều kiện bộc phát thái quá hay bất cập, trong mọi tình huống của cuộc sống.
Thắm nhuần tư tưởng này nên kẻ sĩ ngày xưa hễ: Không phải Lễ thì họ không đến, không phải nghĩa thì không theo. Và chính vì nhờ Lễ Nghĩa mà gia đình, quốc gia mới giữ được giềng mối, có tôi trung, con hiếu, vợ chồng ăn ở với nhau đến ngày đầu râu, tóc bạc.
Riêng chữ Lễ trong hôn nhân, trước tiên phải xác định đó việc dựng vợ gả chồng và đây là một công việc vô cùng hệ trọng vào bật nhất trong Đạo Tam Can, nhưng bên trong lại còn hàm chứa việc hỷ sự, vui mừng chung trong đó. Cho nên những nghi lễ này là những nguyên tắc, giúp cho con người biết tiết chế mọi hành vi ứng xử của mình sao cho vừa phải, có chừng mực, tránh những hành vi bộc phát theo cảm tính, dẫn đến vui mừng thái quá hay bật cập trong quá trình đón nhận việc hỷ sự vô cùng trọng đại này.
Về nguồn gốc xuất xứ của Hôn lễ, thì trong Kinh Lễ có Gia Lễ, còn Hôn Lễ là từ Gia lễ mà ra. Trong thiết kế công trình này của tổ tiên, phải kể đến người có công lớn là đức Khổng Tử, Giáo chủ của Nho gia người đã biên soạn ra bộ kinh này. Trong đó có các nghi thức cưới hỏi trong việc dựng vợ gả chồng mà một người, trong một cuộc đời ai cũng phải trải qua.
Hay nói theo cách khác, Hôn lễ là ngày tổ chức lễ cưới để dựng vợ gã chồng cho con cái của hai nhà, trong đó có diễn tiến các nghi tiết tổ chức cùng nghi thức khấn vái trong việc dựng vợ, gả chồng theo truyền thống từ ngàn xưa của tổ tiên để lại.
Ngoài ra dựa theo từ hán việt, thì việc tổ chức Hôn lễ này phải được cữ hành vào buổi chiều chạng dạn tối, từ 17 đến 19 giờ. Vì căn cứ vào nguyên lý vận hành biến hóa của qui luật Âm Dương, thời điểm này là thời điểm Dương qua, Âm lại, có nghĩa Âm Dương đang giao hòa khắn khít cùng nhau. Từ đó, mới sản sinh ra một loại linh khí tinh anh, rất cực kỳ quan trọng. Linh khí này sẽ lưu chuyển khắp cùng trời đất trong chu kỳ 24 giờ và nhiệm vụ của nó là sẽ đi sanh hóa, nuôi dưỡng và bảo vệ cho đời sống của vạn vật dưới bầu trời này.
Xuất phát từ nguyên lý trên mà Tổ tiên ta đã ứng dụng vào việc tổ chức hôn lễ vào thời khắc này để thuận theo qui luật của Trời đất trong Vũ trụ, giúp cho đôi trẻ được mãi sống hạnh phúc bên nhau và đời sống luôn luôn được phát triển tốt đẹp.
Tuy nhiên tập tục này ngày nay không còn tồn tại, vì những bất tiện về rào cãn của giờ giấc.
Trình tự các bước tiến hành theo Hôn lễ xưa.
Dựa theo phong tục xưa, để tiến đến ngày Hôn lễ, thì phải tiến hành theo trình tự 6 lễ như sau:
1. Lễ Vấn danh. ( còn được gọi là lễ trao danh thiếp).
Lễ này bên nhà trai biên danh thiếp tên họ, tuổi của người con trai đưa sang nhà gái. Nếu nhà gái bằng lòng thì cũng trao danh thiếp lại cho nhà trai để nhà trai xem 2 tuổi có tốt không, có phạm húy tên họ của tổ tiên không, có trong quan hệ dòng tộc không rồi sau đó mới đồng ý tác thành cho đôi trẻ.
2. Lể Sơ vấn.( lễ Cầu thân hay Dạm ngõ)
Lễ này ông mai, hoặc người Chủ hôn đến nhà gái cho biết bên nhà trai đã bằng lòng kết tình thông gia cùng với bên nhà gái và xin nhà gái cho biết ngày làm lễ hỏi, tức là ngày tổ chức nghi lễ Đại đăng khoa. Đồng thời cũng cho biết nhà trai sẽ đem qua lể vật như thế nào trong ngày lễ trọng này.
3.Lễ Đại đăng khoa
( Lễ hỏi, hay Đính hôn, Đại đăng khoa, Lễ hàng rào thưa)
Lễ này rất quan trọng hơn lễ cưới và chỉ tổ chức bên nhà gái, nhà trai qua một số ít người trong bà con thân thuộc. Trong đó có ông mai hoặc người Chủ hôn của nhà trai, cha mẹ chú rễ, chú rễ và có thể có 1 chú rễ phụ.
Lễ vật Chủ yếu là đôi bộng tai, mâm trầu cau và một đôi đèn.Trên khai trầu rượu đựng 4 miếng trầu tiêm và 2 chung rượu.
Sau khi tiến hành xong nghi lễ bái gia tiên bên nhà gái, thì chú rễ chính thức được tập xưng hô là con rễ tương lai của nhà gái. Và sau đó nhà gái sẽ mời nhà trai cùng nhập tiệc.
Xong lễ này, cô dâu tương lai sẽ đi biếu trầu cau và quà bánh của họ nhà trai cho bà con, hàng xóm để ngầm thông báo rằng :Mình đã sắp có nơi trao thân gửi phận.
Sau đó, cứ 15- 20 ngày là chú rễ qua nhà cha mẹ vợ thăm viếng một lần. Nếu chưa đến ngày cưới mà gặp ngày mồng 5 tháng 5 al hay ngày tết, thì chàng rễ luôn đi tết quà bánh cho nhà gái, cùng với ông mai. Ngoài ra, 2 bên sui gia có những cuộc cúng lễ gì quan trọng, cũng đều mời đến nhau luôn.
4.Lễ Sỉ lời
(cho lễ cưới).
Lễ này ông mai và ông bà sui trai sang nhà gái,chủ yếu hỏi thăm bên nhà gái đòi hỏi những lễ vật, tiền nong như thế nào trong ngày cưới để cho nhà trai lo liệu.
5. Lễ nạp tài và thăm con dâu.
( hay lễ viếng sui và thăm dâu)
Gần đến ngày cưới, nhà trai qua nhà gái đưa trước những thứ cần thiết, theo yêu cầu của bên nhà gái để họ chuẩn bị tổ chức lễ cưới và cũng cho trước con dâu tương lai một số ít nữ trang.
6. Lễ Tiểu đăng khoa ( Lễ cưới, hay Vu qui)
Lễ vật chánh gồm có một đôi đèn, một mâm trầu, cặp rượu trà, tiền đồng thế con heo cưới, 1 khai trầu rượu trên có 2 chung rượu và 6 miếng trầu, sáu miếng cau, tượng trưng cho đủ 6 lễ.
Sau khi qua nhà gái tiến hành nghi lễ xong, thì nhà trai sẽ ra lễ rước dâu và thỉnh họ sang nhà trai để tiếp tục hành lễ. Sau đó nhà trai mời họ nhà gái cùng nhập tiệc, là xong lễ cưới.

Đơn giản hóa Hôn lễ trong các thời đại về sau
Trong các thời đại về sau do cuộc sống nhiều bận rộn, nên việc tiến hành theo lục lễ người xưa cũng không còn thích hợp và đã được các bậc trưởng thượng có hiểu biết đơn giản lại, chỉ còn 3 lễ chính, trong đó có lễ hỏi và lễ cưới là được giữ nguyên.
Ba lể trên tiến hành theo trình tự là : Lễ Dạm ngõ đến lễ Hỏi và sau cùng là lễ Cưới.
Tuy nhiên cho dù đã được đơn giản lại, nhưng vẫn đãm bảo được đầy đủ tinh thần và ý nghĩa mang tính đặc thù truyền thống của dân tộc, trong phong tục cưới hỏi nói chung của người Việt.
Cho nên, trong lễ Dạm ngõ còn có tên gọi là Chạm ngõ, lễ xem mặt và gần như lễ Sơ vấn trong lục lễ xưa và là một nghi lễ không thể thiếu trong tiến trình hôn lễ.
Về ý nghĩa trong buổi lễ này là cuộc gặp gỡ giữa hai gia đình, do nhà trai chủ động đến đặt vấn đề chính thức cùng nhà gái để cho đôi nam nữ của hai nhà tìm hiểu kỹ càng hơn, trước khi quyết định đi tới hôn nhân.
Do đó, buổi lễ này về bản chất đó là một hành vi ứng xử mang đậm nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thông qua đó, hai gia đình mới biết cụ thể về nhau, như: hoàn cảnh sinh hoạt, nề nếp gia phong hay phong tục tập quán .v.v...và từ đó hai nhà mới quyết định có nên tiến tới quan hệ hôn nhân này, hay không ?
Vì vậy, nên lễ vật trong lễ Dạm ngõ theo truyền thống cũng rất đơn sơ, nhà trai chỉ đem trầu cau, rượu trà qua dạm ngõ là được.
Nhưng nếu bỏ qua lễ này và tiến hành ngay lễ hỏi, thì mọi sự sẽ trở nên quá đường đột, không có thứ tự và bị cảm giác : cuộc hôn sự này không có khởi đầu, không khởi đầu thì sẽ không có chung cùng vậy .
Cho nên, đây không phải là lễ trọng nhưng cũng không thể thiếu trong tiến trình hôn lễ của người Việt nói chung .Hơn thế, nghi lễ này lại không làm cho gia đình 2 bên tốn kém, nhưng nó lại bảo tồn được tinh thần văn hóa trầu cau của dân tộc, được xây dựng từ thời vua Hùng dựng nước. Vì vậy không thể bỏ qua lễ này mà tiến thẳng vào lễ hỏi và lễ cưới được.
Nghi thức tiến hành LỄ DẠM NGÕ
- Vai trò người Chủ hôn bên nhà trai .
Trong lễ này, lễ vật chính là một chục trầu cau, 1 cặp trà, 1 cặp rượu.
Cũng cần mang theo một chay rượu nhỏ, 2 cái chung để qua nhà gái chỉ rót rượu ra trình lễ và khi ra về nhớ bỏ lại hết.
Thành phần qua nhà gái gồm : Ông Chủ hôn, cha mẹ chú rễ và chú rễ.
Khi vào đến nhà gái chào hỏi giới thiệu đôi câu, rồi đem gói trầu cau mở ra, mượn cái dĩa lớn để đựng lên xong , thì rót 2 chung rượu và nói đại loại như sau :
"Kính thưa anh chị (hay ông thân và bà thân của cháu tên gì đó)
Ông bà ta thường dạy, » Không phải lễ thì không đến, người vô nghĩa thì không gần »
Nhưng đối với ngày nay lễ quá nhiều, thì sợ e phiền toái, nhưng lễ ít quá thì không thể nào chuyển tải được những sự kiện trọng đại, đặc biệt là đối với việc hôn sự quan trọng vào bật nhất của một đời người.
Chính vì thế, nên hôm nay gia đình chúng tôi đến đây cũng có mang theo 1 đôi trà rượu và một dĩa trầu cau để xin được tiến hành Dạm ngõ cháu.....là con gái của anh, chị cùng với con trai của chúng tôi là cháu..... .
Vì theo cháu.... con trai của tôi báo lại : sau quá trình tìm hiểu và yêu mến nhau với con gái của anh chị, thì cháu có ý định xin phép cha mẹ để tiến tới hôn nhân cùng với gái của anh chị.
Dựa theo thỉnh cầu này của con trẻ, hôm nay chúng tôi sang đây có chung rượu lạt, cùng phẩm vật trầu cau trước là để cho 2 gia đình được biết mặt, sau nữa cũng là dâng cúng tổ tiên. Đồng thời tôi cũng chính thức cầu thân cùng gia đình của anh chị để cho hay trẻ có thêm điều kiện tìm hiểu nhau cho thật kỹ càng, trước khi quyết định tổ chức hôn sự cho đôi trẽ.
Xin trình qua anh chị và xin anh chị cho biết qua ý kiến."
Thông thường có hai tình huống của nhà gái trả lời :
1/ là chấp thuận ngay, hoặc không nói gì mà xin phép đem lễ vật đem cúng tổ tiên, hoặc nhà gái cùng mời nhau ly rượu, thì cũng coi như là đã chấp thuận.
Trong trường hợp này, Chủ hôn nhà trai đặt vấn đề tiến đến lễ hỏi phải như thế nào, làm riêng hay gộp cùng lễ cưới lại làm một. Và lễ vật, nữ trang cô dâu, tiền nong ra sau, dự kiến ngày tháng năm nào tổ chức là coi như xong phần dạm ngõ.
2/ Nhà gái trả lời rằng 3 ngày sau theo tục lệ, hay sẽ hỏi con gái rồi trả lời sau, thì hay bên không có gì bàn.
Cho nên, 2 bên chỉ còn uống trà và chuyện trò gì đó rồi xin phép ra về).
                                                                                                                                                                                                                                                                                                     transi
Kỳ sau: Vai trò chủ hôn của nhà trai, của nhà gái trong nghi lễ Đại Đăng Khoa.

WP 20150804 007Giả biệt saigon

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

CHƯƠNG DU-HỒN, QUI-HỒN QUÁI

CHƯƠNG DU-HỒN, QUI-HỒN

 Du-hồn là quẻ thứ 7 trong mỗi cung, như quẻ Hỏa Địa Tấn trong cung Kiền, quẻ Thủy Thiên Nhu trong cung Khôn.
- Qui-hồn là quẻ thứ 8 trong mỗi cung, như quẻ Hỏa Thiên Đai Hữu trong cung Kiền, quẻ Thủy Địa Tỉ trong cung Khôn. Kỳ dư, cứ đó mà suy.

- Du là đi, Qui là quay trở lại. Quẻ du hồn là khí quẻ đã suy, vật không còn chổ để tiến tới vì sự thăng tiến của nó đã cùng tột rồi và đang dong rủi tìm phương trốn lành, nên xem mọi việc đều bị trôi xuôi.
Qui-hồn là chẳng ra khỏi biên cương là bị ngưng trệ không đi được, mọi việc câu nệ mà trắc trở, lấy tương phản với du-hồn mà đoán, thì trúng.

Người xưa nói bói được quẻ du-hồn là có thể đi xa ngàn dặm. Nhưng đi không có mục đích, không có định hướng rỏ ràng, rày đây mai đó dời đổi không chừng. Cho nên xem mọi việc có tượng là xuôi ngược bôn ba, đi hoài ngàn dặm.  Mọi việc làm muốn được lâu dài gặp nó là không được lâu dài do trong lòng không bền-bỉ, không định hướng, dời đổi thất thường.
Quẻ qui hồn thì ngược lại, muốn nhanh thì trở thành chậm, không muốn lâu dài thì nó cứ kéo dài do thận trọng, bền bỉ không thay đổi đường hướng. 

Xem thân mạng gặp du hồn thì số không đươc an cư lạc nghiệp mà phải bôn ba trôi nổi khắp nơi.
Xem hành nhơn gặp du hồn thì người đang bôn ba đi khắp xứ người còn qui hồn thì người sẽ đến, sẽ về.
Xem xuất hành ra đi, thì đi hay ở đều chưa nhất định. Nhưng theo kinh nghiệm xem xuất hành đi xa gặp du hồn, hoặc là hào thế động là đi được. Còn gặp qui hồn dù có đi rồi lại cũng quay về.
Xem nhà cửa, gia đạo gặp du hồn thì thay đổi bất thường;
Xem phong thủy mồ mã thì người chết chôn nơi đó vong linh không được an ổn.
Xem bệnh gặp du hồn thì tâm thần hổn loạn, nay thầy này mai thầy nọ, nay uống thuốc này mai lại đổi thuốc kia, thay đổi liên miên mỗi nơi không quá 3 lần rồi đi chổ khác.
Còn bịnh gặp qui hồn là nguy hiểm, bịnh có thể chờ ngày chết, hoặc bệnh cho đến chết mang theo.
Xem việc làm mới không thuận lợi, không xin đi làm xa được; mua bán không dẹp tiệm thì ế ẩm.

Dã-Hạc nói : Trước phải lấy dụng-thần làm chủ, sau lấy theo khoảng nầy mà xét thêm. Nếu bỏ dụng-thần ra, chấp theo đấy mà đoán, là lầm vậy .
Tuy nhiên xem mọi sự tốt gặp quẻ lục xung, quẻ du hồn và qui hồn đều nên sợ và cảnh giác. Vì quẻ  lục xung là tượng trên dưới, trong ngoài đều không thuận, xung đột tàn sát lẫn nhau.
Du hồn là sự vật đã hết thời tiến triển và đang bị áp lực của suy thời khủng bố.
Qui hồn là tìm về được chổ dung thân, chờ thời sanh hóa lại.
Cho nên những quẻ này đều không lợi cho sự tốt lành. 

 + Thế Du hồn mà động, lợi việc đi đường.
Khi coi gặp Du hồn quái, lợi xuất ngoại, dẫu không gặp Du hồn mà Thế hào động thì vẫn lên đường xuất hành được.
Thế Quy hồn mà tĩnh, không xuất hành được.
Vì quẻ Quy hồn lợi an cư, lợi trở về nhà. Thế an tĩnh cũng tương tự. Phục trong quẻ ứng việc ra bên ngoài (xuất hành), nội quái mà vượng tất cát. Ngoại quái vượng tất việc sau này không lợi. 
Phương Sinh Hợp tất được lợi cát. Hướng Xung khắc tất gặp hung.